Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2019

SANG CÁT CHO ÔNG NGUYỄN VĂN LUYẾN VÀ BÀ PHẠM THỊ MẬN

Ngày 4/12/2019 nhằm ngày 9/11 năm Kỷ Hợi đã tiến hành cải cát cho ông Nguyễn Văn Luyến và bà Phạm Thị Mận.

Công việc được thực hiện lúc 04:05 ngày 4/12/2019 nhằm ngày 9/11 năm Kỷ Hợi. Ông Nguyễn Văn Luyến sinh năm 1934, mất ngày 01/8/2009 (nhằm ngày 11/6 năm Kỷ Sửu), bà Phạm Thị Mận sinh năm 1932 (CMND ghi năm 1931), mất ngày 10/10/2014 (tức ngày 17/9 năm Giáp Ngọ)

Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2019

Lễ hội Đình Cả năm 2019

Sáng ngày 16/8/2019 (tức ngày 16 tháng 7 năm Kỷ Hợi), xã An Bình tổ chức khai mạc lễ hội Đình Cả năm 2019.

Thứ Ba, 12 tháng 11, 2019

CÔ TÔI

CÔ TÔI
Ly hương biệt xứ cô đi
Cả đời vật lộn cũng vì chồng con
Tuổi già chân mỏi gối chồn
Hũ xương di chúc về chôn quê nhà
Sống thời đất khách người ta
Thác thời về với ông bà tổ tiên
Theo chân các bậc thánh hiền
Cô tôi nay đã về miền cố hương.

Thứ Tư, 4 tháng 7, 2018

Duyên cớ thành lập tỉnh Thái Bình

Theo các nguồn sử liệu thì địa danh Thái Bình với tên gọi phủ Thái Bình (gồm phần lớn đất đai tỉnh Thái Bình ngày nay) có từ năm Ứng Thiên thứ 12 (1005) đời vua Lê Long Đĩnh với sự kiện đổi tên đất Đằng Châu thành phủ Thái Bình. Đương nhiên, trước khi xuất hiện địa danh Thái Bình thì quá trình khai phá đất đai, mở làng, lập ấp ở vùng đất này đã diễn ra từ hàng nghìn năm trước công nguyên và tên gọi, địa dư, diên cách của các phủ, lộ, huyện, làng, xã đã trải nhiều đổi thay theo sự biến thiên của các triều đại.

Thứ Sáu, 27 tháng 11, 2015

60 NĂM ĐẤT VÀ NGƯỜI AN BÌNH

.
Đây là Phim tài liệu quay, dàn dựng công phu về Lịch sử hình thành xã An Bình, đặc điểm văn hóa, con người An Bình. Xin mời bà con cùng xem.


Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2014

CẢM TẠ

.
Gia đình chúng tôi xin chân thành cảm tạ:

- Đảng ủy, chính quyền, Hội người cao tuổi và các ban ngành, đoàn thể xã An Bình, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình,

- Ban Giám đốc Viện chăn nuôi và các Phòng Nghiệp vụ, các Bộ môn nghiên cứu thuộc Viện Chăn nuôi Quốc gia, 
- Ban Giám đốc Phân Viện Chăn nuôi Nam Bộ và các Phòng Nghiệp vụ, Bộ môn nghiên cứu thuộc  Phân Viện Chăn nuôi Nam Bộ,

-  Công ty TNHH Thuốc Thú y Ruby,


- Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương; Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên; Trung tâm Nghiên cứu lợn Thụy Phương; Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện Chăn nuôi; Trung tâm Nghiên cứu và PTCN miền Trung; Trung tâm Nghiên cứu Ong, Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì, và các đơn vị trực thuộc Viện Chăn nuôi Quốc gia,


- Trung tâm Nghiên cứu và PTCN Gia cầm Vigova, Trung tâm Nghiên cứu và PTCN Heo Bình Thắng; Trung tâm Nghiên cứu và PTCN Gia súc lớn; Trung tâm Công nghệ sinh học Chăn nuôi thuộc Phân Viện Chăn nuôi Nam Bộ;

- Hội Đồng Hương xã An Bình tại Tp Hồ Chí Minh,
Hội cựu Sinh viên Việt Nam Tại Mông Cổ,
- Công ty Cao su Phú Riềng, Bình Phước,
- Bệnh viện Đa khoa thuộc Công ty Cao su Phú Riềng,
- Công an tỉnh Bình Phước,
- Công ty CP Vận tải Biển Đông;
- UBND xã Phú Riềng, Bình Phước,
- Các gia đình thông gia Thanh Trì (Hà Nội), Tiền Hải, Đông Hưng, Quốc Tuấn (Kiến Xương), Hải Dương; các gia đình liên thông gia,
- Các anh, chị đồng nghiệp công tác tại Cục Chăn nuôi, Viện Chăn nuôi, Phân Viện Chăn nuôi Nam Bộ, và các đơn vị trực thuộc,
Thân bằng quyến thuộc,
Bà con lối xóm và bạn bè xa gần


Đã đến phúng viếng, gửi vòng hoa, gửi điện, E-mail chia buồn và tiễn đưa mẹ của chúng tôi là



                                                                           Cụ bà: PHẠM  THỊ MẬN
                                                                                    Sinh năm 1931(*)
                Mất lúc 05 giờ 5 phút, ngày 10 tháng 10 năm 2014 (nhằm ngày 17 tháng 9 Giáp Ngọ)
                                                                                 Hưởng thọ 84 tuổi


           về nơi yên nghỉ cuối cùng tại Nghĩa trang Thế Dành, xã An Bình, Kiến Xương, Thái Bình
Trong lúc tang gia bối rối có điều chi sơ suất xin lượng tình thứ lỗi
Tang gia đồng cảm tạ

TM Gia đình
Con trưởng


Nguyễn Ngọc Huân

P/S: Đây là theo CMND, còn thực ra Mẹ tôi tuổi Thân, 1932

Thứ Tư, 27 tháng 8, 2014

LỊCH SỬ NAM TIẾN VÀ NHỮNG CUỘC DI DÂN

.
LỊCH SỬ NAM TIẾN VÀ NHỮNG CUỘC DI DÂN

-          Từ năm 2897 đến năm 2875 trước Công nguyên: nước Văn Lang, họ Hồng Bàng rồi Âu Lạc. Triệu Đà chiếm, khởi đầu Bắc thuộc.
-          Từ năm 76 trước Công nguyên đến thế kỷ thứ 10: Ngô Quyền, 12 Sứ quân, đến triều Đinh (968 – 980), thời kỳ độc lập tự chủ, ranh giới phía Nam giáp Châu Hoan, Hà Tĩnh nay.
-          Năm 992 Lê Đại Hành huy động 3 vạn người vào huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tỉnh, đến châu  Địa Lý của Chiêm. Đây là đường bộ đầu tiên khai thông Bắc - Nam.
-          Năm 1069, vua Lý Thánh Tông vào đánh Chiêm Thành, Chế Củ bị bắt, xin nộp ba châu Bố Chánh, Địa Lý và Ma Linh. Châu Bố Chánh là Nam-Bắc sông Gianh, Quảng Bình nay. Châu Địa Lý nằm giữa Quảng Bình, nay là Lệ Thủy. Châu Ma Linh nằm ở miền Bắc Quảng Trị, nay là Minh Linh, Gio Linh. Liền sau đó vua xuống chiếu chiêu mộ dân vào ở. Hưởng ứng, nhân dân  Nghệ An vào thành họ tộc, lập các xóm thôn như Phan xá, Hoàng xá, Ngô xá, Vũ xá…(xin xem thêm sách “Ô Châu cận lục”)
-          Thời thuộc Minh, từ năm 1407, đất Chiêm Động và Cổ Lủy lại vể lại  với Chiêm Thành, do nhà Minh quản lý.
      Từ 1418 đến 1425, Lê Lợi chiếm lại Thuận Hóa. Châu huyện vẫn gọi như trước, nhưng biên cương vẫn không yên ổn.
-          Năm 1471, vua Lê Thánh Tông quyết định thân chinh tiến đánh, vây hảm thành Trà Bàn (Đồ Bàn), bắt sống Trà Toàn và chiếm đất đến Thạch Bi Sơn, đặt ra phủ Hoài Nhơn. Vùng đất mới chiếm nầy đặt tên mới là Thừa Tuyên Quảng Nam, trong đó có ba phủ, phủ Hoài Nhơn có ba huyện là  Bồng Sơn, Phù Ly và Tuy Viễn. Năm 1490, đổi Thừa Tuyên thành xứ.
-          Ngoài việc đất Quảng Bình (Châu Bố Chính) di dân theo kiểu họ tộc, trong huyện Khang Lộc có 72 làng Mai Xá, Chu  Xá, Lỗ Xá, Phan Xá, Bùi Xá, Trương Xá; ở Châu Minh Linh có 65 làng. Số quan quân đi đánh Chiêm cũng được phép ở lại. Lại khuyến khích dân Nghệ An thạo nghề sông biển, dùng thuyền vào khai thác Hòai Nhơn. Đặc biệt lại đưa phần tử tù nhân bị lưu đày, chia làm 3 bậc đi 3 nơi: lưu cận châu đi Nghê An, Hà tỉnh; lưu ngoại châu, đi Châu Bố Chánh; lưu viễn châu đi Quảng Bình
-          Từ  năm 1474, có đất Thăng Hoa, việc lưu đày được sửa đổi: lưu cận châu, đi Thăng Hoa; lưu ngoại châu đi Tư Nghĩa; lưu viễn châu, đi Hoài Nhơn.
-          Cuộc di dân thời Lê là quan trọng, người Chăm không chỗ lùi phải sống chung với người Việt, cuộc sống của dân mới yên ổn làm ăn.
-          Từ năm 1558 - 1613, Nguyễn Hoàng  theo sấm Trạng Trình: “Hoành sơn nhất đái vạn đâi dung thân” đã vào Thuận Hóa.
-          Khi Đoan quận công vào xây thành Ái Tử,  đoàn tùy tùng theo ông khá đông, gồm những nhà quyền quý ở Tống Sơn, nghĩa dõng ở Thanh Hóa, Nghệ An và khá đông kiến họ ngoại của Chúa cũng theo vào.
-          Nguyễn Hoàng đánh nhau với tướng nhà Mạc là Lập Bạo. Lập Bạo bị giết, quân sĩ đầu hàng, Chúa cho ở lại đất Cồn Tiên lập lên 36 phường.
-          Năm 1611, quân Chiêm Thành ra đánh biên giới Hoài Nhơn, Chúa đem binh đánh trả, chiếm luôn đất Phú Yên, lập hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa.
-          Năm 1648 - 1687 Nguyễn Phúc Tần, chiến tranh Trịnh - Nguyễn nổ ra, trong 46 năm 7 lần đánh nhau, lần thứ 5, quân Nguyễn đánh ra chiếm 7 huyện của Nghệ An suốt 5 năm, khi rút về dắt theo 3 vạn quân dân đàng ngoài, đưa vào an trí khai hoang vùng Quảng Nam cho đến Phú Yên. Lần nầy có họ Hồ ở Hưng Nguyên (Nghệ An) đưa vào An Khê. Đây là Tổ tiên của ba anh em nhà Tây Sơn.
-          Năm 1672, Trịnh Nguyễn đánh nhau lần cuối, không phân thắng bại, hai bên lấy sông Gianh làm giới tuyến, từ đó Nam Hà tách khỏi ảnh hưởng nhà Lê, hình thành một trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế mới là Tri Thiên – Huế.
-          Từ năm 1691 – 1725, chúa Nguyễn Phúc Chu 3 lần mở rộng lảnh thổ về phía Nam:
      1. Năm 1693 lấy nốt đất Phan Rang, Phan Thiết của Chiêm Thành.
      2.  Năm 1698, họp thức hóa hai vùng Đồng Nai và Bến Nghé của Thủy Chân Lạp, lâp ra Gia Định, với hai huyện Phước Long và Tân Bình và di dân miền Ngũ Quảng vào khai thác. Đó là vùng đất miền Đông Nam bô ngày nay. 
      3.  Năm 1714, tiếp nhận vùng đất Hà Tiên do Mạc Cửu dâng cho chúa Nguyễn, gồm An Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau.
-          Sau đó, Nghi biểu hầu Nguyễn Cư Trinh can thiệp vào cuộc động binh giữa Xiêm La, Cao Miên và họ Mạc Cửu ở Hà Tiên, để tiếp quản nốt vùng  Tầm Đôn- Lôi Lạp - Tầm Phong Long vào bản đồ Việt Nam.
-          Trong những lần vào Nam, Tây sơn bỏ ngũ lại, Nguyễn Ánh lên ngôi đã hợp thức hóa cho số người nầy, tiếp đó là tiếp nhận số “phản Thanh phục Minh”
-          Năm 1954,  Nam bộ có thêm dân miền Bắc di cư.
-          Sau năm 1975 số cán bộ, chiến sĩ; số người thiên cư từ miền Bắc vào khá đông.

Sư tầm từ nhiều nguồn

Thứ Tư, 20 tháng 8, 2014

Sang Cát cho Cụ Bà Phạm Thị Khoan

Ngày 22/12/2013, Gia đình tổ chức Lễ Sang Cát cho Cụ Bà Phạm Thị Khoan.
Cụ bà Phạm Thị Khoan (1913-2003)

Thứ Tư, 29 tháng 2, 2012

Mừng thọ 80 bà Vũ Thị Tám (Nhũ danh là bà Lạc)

.
Ngày 19/2/2012 tại tư gia anh Nguyễn Mạnh Hồng, Tam Hòa, Biên Hòa, Đồng Nai diễn ra Lễ mừng Thọ 80 bà Vũ Thị Tám (Nhũ danh là bà Lạc)


Thứ Bảy, 11 tháng 6, 2011

Mừng thọ bà Luyến (Bà Phạm Thị Mận) tuổi 80

Ngày Mùng 4 Tết Tân Mão, 2011, xã An Bình tổ chức mừng thọ cho các cụ trong đó có bà Phạm Thị Mận (nhũ danh là bà Luyến). 

Dưới đây là một số hình ảnh Lễ mừng thọ bà Luyến 80 tuổi.

Các cụ cùng 80 tuổi

Thứ Ba, 29 tháng 3, 2011

Cây gia phả dòng họ cụ Thượng tổ Nguyễn Văn Quảng

.
Đề nghị các con cháu tìm hiểu, bổ sung các thông tin:
(i) Trước cụ Tổ Nguyễn Văn Quảng là ai?
(ii) Cụ Tổ Nguyễn Văn Quảng là người gốc ở đâu, Cụ từ đâu đến? Đến khi nào?
(iii) Tên đất Bình Trật có từ khi nào?
v.v...


Thứ Hai, 28 tháng 3, 2011

GIA PHẢ HỌ NGUYỄN

.
Kính thưa các cụ và nội ngoại tộc cụ Thượng Tổ Nguyễn Văn Quảng, dưới đây là các ghi chép từ nhiều nguồn khác nhau. 

Những người cung cấp thông tin chủ yếu, gồm:

- Ông Nguyễn Văn Diễn, đã cung cấp toàn bộ khung sườn của Gia phả cùng phần lớn các số liệu, sự kiện được các cụ truyền dẫn lại. Bản thân ông Diễn cũng tham gia đi thực tế kiểm chứng các nguồn thông tin khi ông Rủ, ông Tu, ông Mai còn sống.
- Ông Nguyễn Mạnh Lạc, kể lại các sự kiện cho chúng tôi để ghi lại;
- Ông Nguyễn Đình Thư, qua trao đổi với chúng tôi ngày 26/8/2014;
- Ông Nguyễn Ngọc Huân, tham gia viết thêm các sự kiện từ những năm 1960 trờ lại đây;
- Ông Nguyễn Mạnh Hồng: kể lại các sự kiện nghe được từ các tiền bối.

Vì vậy, có chỗ nào chưa chuẩn với sự kiện của Gia phả, xin nội, ngoại tộc cụ Thượng tổ bổ sung.



CÁC NGÀY GIỖ CHẠP: 


Thư ngỏ gửi con cháu cụ Thượng tổ Nguyễn Văn Quảng

.
Gia phả được coi là tài sản của một dòng họ. Gia phả là bản ghi chép tên họ, tuổi tác, vai trò và công đức của cha mẹ, ông bà, tiên tổ ... trong thời đại mà họ đã sinh ra và lớn lên của một gia đình hay một dòng họ.

Gia phả có thể được coi như một bản sử ký của một gia đình hay một dòng họ. Gia phả có khi gọi là Phổ ký, có khi là Phổ truyền. Các nhà Tông thất (dòng dõi vua quan), có khi gọi gia phả của vương triều mình hay gia tộc mình bằng từ ngữ trân trọng hơn: Ngọc phả, Thế phả...