Thứ Hai, 15 tháng 1, 2024

TIN BUỒN

 


Gia đình bà Rộng vô cùng thương tiếc báo tin: Ông Đỗ Văn Chức, sinh 1949 (chồng bà Nguyễn Thị Rộng), sau thời gian bệnh nặng, mặc dù đã được y bác sĩ và gia đình tận tình cứu chữa, đã không qua khỏi, và từ trần lúc 17 giờ 15 phút ngày 12/01/2024.
Khâm liệm lúc 13 giờ 15 phút ngày 13/01/2024, di quan lúc 8 giờ sáng 14/01/2024.
Kính báo.

Thứ Tư, 3 tháng 1, 2024

GIỖ HÚY KỴ CỤ THƯỢNG TỔ NGUYỄN VĂN QUẢNG NĂM 2023


 Ngày 21 tháng Một Quý Mão (tức 2/01/2024), tại Nhà Thờ Họ Nguyễn đã diễn ra Giỗ Húy kỵ cụ Thượng Tổ Nguyễn Văn Quảng. Đông đảo con cháu đã về tham gia tổ chức Giỗ. Trong số đó, có các ông bà Nguyễn Văn Hoài, ông bà Nguyễn Văn Diễn, ông bà Nguyễn Mạnh Du (ông Khiển), ông bà Nguyễn Duy Tơn, bà Quát, ông bà Truyền, ông Dẫn... các cháu Nguyễn Tuấn Khánh (Thôn trưởng), cháu Nguyễn Văn Lợi (Phó Thôn), và các con cháu từ nhiều nơi khác về thắp hương Giỗ Cụ Thượng tổ.

Năm nay, vợ chồng anh Nguyễn Ngọc Huân từ thành phố HCM cũng lần đầu tiên về tham gia.

Cháu Nguyễn Mạnh Hồng từ Biên hòa năm nào cũng tham dự.

Ông Nguyễn Văn Hoài đã phát biểu nêu bật ý nghĩa ngày con cháu sum vầy tưởng nhớ các Tiền nhân, ghi nhớ ơn phúc của cha ông để lại cho các thế hệ phát triển tốt như ngày nay.

Lễ Giỗ cụ Thượng tổ diễn ra trang trọng, ấm cúng.

Chủ Nhật, 23 tháng 7, 2023

ĐÁM CƯỚI CHÁU KHÁNH LY (CON CÔ LOAN)

 


11:00 ngày 23/7/2023, tại Trung tâm Hội nghị và Tiệc cưới Phố Đôi, 36 QL1 A, phường An Bình, Tp  Dĩ An, Bình Dương đã diễn ra Lễ Thành hôn của cháu Bùi Thị Khánh Ly cùng Đặng Văn Hải. Cháu Khánh Ly là con lớn của cô chú Nguyễn Thị Loan - Bùi Trọng Hậu (Cô Loan là con gái ông bà Nguyễn Văn Luyến).

Đông đảo bà con cô bác, nội ngoại hai bên gia đình, cùng thân hữu đã đến chung vui với 2 gđ và chúc phúc cho 2 cháu.




Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2023

Dòng tộc Nguyễn Văn tổ chức lễ cúng đầu năm

 Hôm nay 13 tháng giêng năm Quý Mão, tại Nhà thờ Tổ, Dòng tộc Nguyễn Văn tổ chức lễ cúng đầu năm. Cầu cho con cháu trong họ tộc luôn mạnh khỏe, đoàn kết, bình an, nở cành, xanh ngọn, phát phúc bền lâu.



Thứ Năm, 29 tháng 12, 2022

Giỗ huý kỵ chân linh cụ Nguyễn Văn Chí

 Hôm nay ngày 29/12/2022, nhằm Mồng 7 tháng Chạp năm Nhâm Dần là ngày huý kỵ chân linh cụ Nguyễn Văn Chí thuộc chi 2 cành 2 họ tộc Nguyễn Văn.

Giỗ Cụ được tổ chức tại nhà ông Nguyễn Đình Khôi. Đông đảo cháu, chắt, chít của Cụ và khách mời về thắp hương tưởng nhớ Cụ và thực hiện các công việc lễ Giỗ.




Thứ Tư, 28 tháng 12, 2022

SANG CÁT CHO BÀ RỤC

 Đêm ngày 4/12/2022, con cháu và họ hàng đã tổ chức sang cát cho bà Rục.

Bà Rục mất năm 2014.



GIỖ CỤ THƯỢNG TỔ NGUYỄN VĂN QUẢNG

 Ngày 14/12/2022, nhằm 21 tháng Một Nhâm Dần, đông đủ con cháu dòng họ Nguyễn Văn đã tề tựu đầy đủ tổ chức Giỗ Húy Kỵ Cụ Thượng Tổ Nguyễn Văn Quảng.

Do ảnh hưởng Covid-19, nên 3 năm qua, không tổ chức Giỗ Húy Kỵ Cụ Thượng Tổ được.

Đây là dịp các con cháu dòng họ Cụ ôn lại nguồn gốc Tổ Tiên, gặp gỡ giới thiệu các thành viên lão thành như các bà là cháu gái, cháu dâu như bà Quát, bà Rộng, bà Thanh, bà Gái, bà Lưu... và các ông như ông Khiển, ông Tơn, ông Hoài, ông Rĩnh, ông Nhuệ, ông Thư với đại gia đình, cùng rất, rất nhiều các cháu mới lớn chưa hiểu biết hết gốc gác. 

Đây cũng là dịp giới thiệu truyền thống gia đình dòng họ Nguyễn Văn. Do mưu sinh, rất nhiều con cháu đang sinh sống, làm việc ở mọi miền đất nước, vẫn nhớ về cội nguồn, phấn đấu đạt nhiều kết quả trong cuộc sống, lao động, học tập.

Hoan hỷ chào mừng các thành viên dòng họ Nguyễn Văn.



 

Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2022

THÔNG BÁO GIỖ CỤ THƯỢNG TỔ NGUYỄN VĂN QUẢNG

 Được sự nhất trí của các bác, các chú, Năm nay họ tộc tổ chức lễ giỗ cụ Thượng tổ Nguyễn Văn Quảng sẽ nhằm ngày 14/12/2022 tức thứ 4 ngày 21/11 năm Nhâm Dần.

Nội dung thực hiện:

1- Chiều 20/11 AL tổ chức bài tiết lễ hoa quả dâng hương cung thỉnh chân linh các cụ tổ tiên;

2- Sáng 21/11Al tổ chức lễ giỗ cụ từ 8h kết thúc lễ giỗ vào 10h sau 10h các con cháu trong họ tộc tạ lễ thụ lộc tại Từ đường họ.

Thay mặt họ tộc xin trân trọng thông báo tới toàn thể anh em con cháu, nội ngoại trong họ tộc trên khắp mọi miền tổ quốc sắp xếp thời gian công việc về dự lễ giỗ Cụ đông đủ.

Mọi chi tiết xin liên hệ về bác Nguyễn Văn Hoài sđt 0355393466 .

Xin trân trọng thông báo ./.



GIỖ HÚY KỴ CỤ NGUYỄN VĂN ĐỌC

 Ngày 25/11/2022, nhằm ngày 2/11 Nhâm Dần, tại Từ đường Chi Cành Nguyễn Văn chi Hai, cành Hai (tư  gia ông bà Khôi hiện tại), các con cháu, chắt đã tổ chức Húy  kỵ chân linh cụ Nguyễn Văn Đọc, 59 năm ngày Cụ từ trần. 



Đông đảo con cháu chắt đã về dự.

Nhân dịp này, cô Nguyễn Thị Lạm có mấy câu cảm tác:

Mâm cơm sum họp gia đình

Nhớ ngày kỷ niệm Bác mình đi xa...

Mấy chục năm đã đi qua,

Bác về Cõi Phật niệm A Di Đà...


TIN BUỒN: CÔ NGUYỄN THỊ GẮN TỪ TRẦN

 Cô Nguyễn Thị Gắn, sinh năm 1949, sau thời gian bệnh nặng, dù đã được con cháu và gia đình tận tình chăm sóc, chữa trị, đã từ trần này 4/11/2022, nhằm ngày 11/10 Nhâm Dần, tại nhà riêng ở Lai Châu, thọ 74 tuổi.

Xin chia buồn cùng gia đình Cô Gắn.

TIN BUỒN: BÀ VŨ THỊ HOẠT TỪ TRẦN

 Bà Vũ Thị Hoạt, nhũ danh là bà Đởn, sau thời gian bệnh nặng, dù đã được con cháu, gia đình, y tế tận tình cứu chữa, nhưng tuổi cao bệnh nặng, đã từ trần hồi 8:40 ngày 9/10/2022, nhằm 11/9 Nhân Dần, thọ 84 tuổi.


Lễ Khâm liệm lúc 19:00 ngày 6/10/2022 tại nhà riêng thôn Phương Lạ, xã Tân Thịnh, huyên Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, Lễ Hỏa thiêu lúc 22:00 ngày 7/10/2022, Lễ An táng lúc 7:00 ngày 8/10/2022.

Tang gia đồng kính báo.

Con cả


Nguyễn Mạnh Lâm

GIỖ CỤ NGUYỄN VĂN RỦ

 

Hôm nay ngày 23/10/2022, nhằm ngày 28/09 Nhâm Dần tại Từ đường Nguyễn Văn chi 2 cành Hai (bên cành cụ Tụ) tổ chức lễ cúng phả độ gia tiên, nhân ngày huý kỵ chân linh cụ ông Nguyễn Văn Rủ

Ông Nguyễn Văn Nhuệ chủ Lễ Cúng. Đông đảo các con, cháu, chắt tề tựu thắp nhang nhớ ngày cụ Rủ mất.





Thứ Sáu, 31 tháng 12, 2021

CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2022

 NHÂN DỊP NĂM MỚI 2022 KÍNH CHÚC CÁC CỤ, CÁC ÔNG BÀ, ANH CHỊ EM, CÁC CHÁU AN KHANG, THỊNH VƯỢNG, HẠNH PHÚC, VẠN SỰ HANH THÔNG




Thứ Bảy, 20 tháng 11, 2021

GIẢI THÍCH VỀ CHỨC HÀM CÁC CỤ CHI HỌ

 Trước đây, được nghe chức hàm phẩm các cụ Chi họ. Thí dụ, cụ Phó Thí, cụ Tổng Chí, cụ Quản Tụ, Quản Rụ...

Ông Nguyễn Đình Thư nói rõ như sau.

Hồi còn sống, cụ Đọc (cụ bà) thường kể cho ông Thư. Theo đó, Cụ Vợi có kinh tế đều mua chức cho con: cụ phó Thí ,cụ tổng Chí, cụ nào cũng được học chữ nho. Cụ Tổng chí giàu có xây được nhà Thờ to và mua chức hào cho cụ Gián, chức tổng cho cụ Đọc.

Những năm cải cách ruộng đất đã qui sai cụ Gián và cụ Đọc là địa chủ có 2 mẫu ruộng, một con trâu, năm gian nhà bương. Trong nhà nuôi nhiều người nghèo khó coi như con cháu trong nhà. Sau sửa sai thành phần chính trị quy lại là trung nông. Như bây giờ thì gọi là địa chủ cách mạng vì là nơi nuôi cán bộ.

Cụ Đọc có con trai lớn đi bộ đội từ năm 1952.

Còn cụ Tụ mua cho con chức quản là cụ quản Tỵ quản Rụ.

Riêng cụ Rủ vào Đảng ở những năm 1947. Ấy thế mà tổ chức còn qui sai là Quốc dân Đảng. Nếu không có ông Tu bí mật vào nơi giam để làm tư tưởng, kiên trì lập trường cộng sản, thì ông Rủ dễ đã tự tử rồi (lời của ông Tu kể lại).

Mấy điều có liên quan chú Thư kể lại như vậy.


Thứ Hai, 28 tháng 6, 2021

ĐÌNH CẢ THÔN BÌNH TRẬT

 Tương truyền ở đình Bình Trật, thôn Bình Trật, xã An Bình, huyện Kiến Xương có giếng nước cổ linh thiêng, nước trong mát và không bao giờ cạn kể cả trời khô hạn và không úng ngập dẫu trời mưa trút nước, quanh làng lụt lội. Phàm người có nỗi niềm trầm luân đến đây lấy nước giếng rửa mặt đều giải được sầu oan. Ngày cuối năm trước tết Nguyên đán, người dân đến đình lễ thành hoàng rồi xin nước của ngài về tắm sẽ tẩy được bụi hồng trần…


Ẩn mình giữa đồng lúa yên ả của làng quê Bình Trật, đình Bình Trật (còn có tên là đình Cả) được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1984, đình có kiến trúc “tiền nhất, hậu đinh” gồm năm gian tòa đại bái và ba gian hậu cung. Kiến trúc chạm lõng, bong kênh gỗ với nét chạm trổ ở đầu dư và vì kèo tinh xảo, mềm mại, uyển chuyển, ngoài ra tường đình còn có những mảnh ghép gốm nghệ thuật mang phong cách kiến trúc cung đình…
Theo tài liệu điền dã, thuở hồng hoang đất làng Bình Trật thuộc trấn Nam Giao, sau này thuộc huyện Chân Định, phủ Kiến Xương. Làng có nhiều sông, lạch bao quanh tạo nên thế đất “lưỡng long chầu nguyệt”. Các bậc cao niên trong làng cũng không ai nhớ rõ đình Bình Trật xây dựng từ thế kỷ nào chỉ biết sau nhiều niên đại, nhiều lần trùng tu, tôn tạo, được các triều đại phong kiến sắc phong… đình có hiện trạng “tiền nhất, hậu đinh” trầm mặc. Các bậc tiền bối trong làng truyền ngôn lại đình thờ Trinh Thục công chúa và phối thờ “Tam vị Đại vương” là Tây Hải Đại vương Cao Sơn, Nam Hải Đại vương An Dương Vương và Đông Hải Đại vương Đoàn Thượng. Tương truyền, giếng trong đình Bình Trật được coi là “độc nhãn thần long” rất linh thiêng. Truyền ngôn giếng thần giữa sân đình là nơi Mỵ Châu, con gái An Dương Vương trẫm mình bên bờ biển. Thời Hai Bà Trưng dấy binh khởi nghĩa chống giặc Đông Hán (40 - 43), nữ tướng Vũ Thị Thục nương, con gái hào trưởng trang Phượng Lâu Vũ Công Chất đã từng thả thuyền trôi xuôi về đây nương nhờ “độc nhãn thần long”.
Dưới mái đình cổ kính, câu chuyện về nữ tướng Vũ Thị Thục nương gắn với huyền tích làng Bình Trật vẫn được các bậc cao niên truyền kể cho thế hệ sau. Chuyện kể rằng hào trưởng họ Vũ lấy vợ là Hoàng Thị Mầu người cùng trang hợp ý đẹp lòng. Vũ công biết nghề thuốc, thường đi xa nhà tìm kiếm lá thuốc quý, dạo gót khắp châu trang hái thuốc và chữa bệnh cứu người. Một lần đi hái thuốc, Vũ công gặp một ngôi miếu cổ tường đổ mái xiêu, hương lạnh khói tàn, rêu phong dột nát, hỏi ra mới biết miếu thờ Sơn Tinh công chúa Ngọc Hoa là vợ Sơn thánh Tản Viên. Dân gian truyền tụng miếu cổ linh thiêng, nhưng trải qua nhiều phen biến loạn, dân cư phiêu bạt nên miếu vũ cũng hoang tàn. Vũ công than thở hồi lâu rồi ngỏ ý muốn được cùng dân làng trùng tu lại tòa miếu, tạc tượng Sơn Tinh công chúa phụng thờ. Hiềm nỗi, ông bà Vũ công đã lớn tuổi mà chưa sinh hạ được người con nào, tôn tạo xong miếu, một đêm bà Hoàng thị nằm chiêm bao thấy cụ già râu tóc bạc phơ nói với bà rằng “công chúa Ngọc Hoa là con gái đức Hùng Duệ Vương và là vợ của Tản Viên Sơn thánh thần núi Ba Vì tài cao phép lạ, có công lớn giúp nước yên dân. Nay Vũ công trùng tu tôn miếu của công chúa cũng giống như để bày tỏ tấm lòng kính nhớ tổ tiên vậy”. Sau đó bà Hoàng thị mang thai, đủ chín tháng mười ngày sinh được một con gái trắng trẻo, xinh xắn. Hai vợ chồng Vũ công mừng vui khôn xiết, đặt tên con là Thục nương. Dân các trang quanh vùng chúc mừng ông bà Vũ công. Thục nương càng lớn càng xinh đẹp, da trắng như trứng gà bóc, má hồng môi thắm, mắt sáng mi cong. Tới năm mười sáu tuổi, Thục nương đẹp như đóa hoa xuân, được Vũ công cho học thi thư, cung kiếm. Tuổi 16, Thục nương đẹp như trăng rằm, nhiều hào trưởng trong vùng ướm hỏi sính lễ. Phạm Danh Hương, con trai hào trưởng cai quản 13 trang trại ở Nam Chân năm ấy tuổi ngoài hai mươi, gương mặt tuấn tú, văn võ tinh thông, nghe tiếng Thục nương là khách anh tài, hiền hòa đức độ nên đến đặt trầu cau dạm hỏi. Vốn là chỗ quen thân với hào trưởng Nam Chân, Vũ công bằng lòng gả cưới. Thục nương chỉ còn chờ mùa thu hương cốm têm trầu cánh phượng qua đò sang sông. Bỗng một hôm Thái thú Tô Định cùng bọn quan quân giả làm khách buôn ghé thuyền vào bến Phượng Lâu, xin yết kiến Vũ công. Vũ công đón tiếp tử tế gọi Thục nương mời trầu. Tô Định mới nhìn thấy dung nhan Thục nương đã mê mẩn say đắm bèn nói với bọn quan hầu rằng: “Người con gái này nếu không phải là Hằng Nga nơi cung Quảng thì cũng là tiên nữ chốn Bồng Lai, ta quyết phải đón nàng về Phủ hưởng thú vui”. Về tới Phủ Thái thú, Tô Định ra lệnh triệu Vũ công. Vũ công không rõ có việc gì mà Phủ Thái thú lại gọi đến mình, nhưng cũng phải thu xếp theo viên sứ lên đường. Tới nơi Tô Định mở tiệc đón mừng, tôn Vũ công ngồi ghế trên. Vũ công nhận ra Tô Định chính là khách buôn người Hán vừa ghé nhà mình, lòng càng lo ngại, từ chối không dám ngồi trên. Tô Định lại cho Vũ công ngồi ngang mình rồi trong tiệc rượu ngỏ ý đón Thục nương về phủ lập làm phu nhân. Vũ công giật mình khéo chối từ: “Thục nữ nhà tôi xấu xí đã nhận lời kết hôn với con trai vị hào mục ở Nam Chân rồi”. Tô Định đưa lời ép buộc, Vũ công một mực chối từ. Tô Định nổi trận lôi đình, truyền đánh chết Vũ công, lại cho lệnh triệu ngay cha con hào mục Nam Chân về hầu. Khi Phạm Danh Hương và cha vừa tới nơi, Tô Định thét quân dưới trướng lấy gậy đánh chết cả hai cha con, lại phát lệnh cử một đạo quân về Phượng Lâu trang bắt lấy Thục nương đưa về thành phủ. Thục nương một mình theo đường tắt ra sông, nhổ thuyền thả xuôi dòng nước. Lúc ấy mặt trời đã lặn. Thuyền trôi vùn vụt trong đêm, tới khoảng canh tư thì dạt vào bến sông. Nghe tin Trưng Trắc, Trưng Nhị dựng cờ khởi nghĩa chống Tô Định, Thục nương tìm về Hát Môn phò giúp hai bà giết chết Tô Định và trở thành nữ tướng của hai bà… Dẹp xong Tô Định, Trưng Trắc lên ngôi vua, phong Thục nương làm Bát Nạn đại tướng quân, Trinh Thục công chúa.
Tương truyền, vua Lê khi đem quân chinh phạt Chiêm thành có ghé qua huyện Chân Định, phủ Kiến Xương, trấn Sơn Nam, dừng quân cạnh dòng Bạch Lãng (Trà Lý) nhìn thấy đình Bình Trật cổ kính liền bước vào dâng hoa đăng tế lễ. Vua bất chợt ngước trông bức đại tự treo trong đình có bốn chữ khảm trai “Trụ định âm dương” (nghĩa là nơi đây âm dương đã định vị) thấy làm lạ liền cho mời các bô lão ra đình hỏi chuyện. Các cụ đem sự tích Thục nương tâu bày với nhà vua. Vua Lê cho làm lễ tế thần trước khi ra trận. Trận ấy vua Lê đánh Chiêm Thành đại thắng, chém được đầu vua Chiêm, bắt được nhiều tù binh. Khi trở về Thăng Long bèn bao phong Trinh Thục công chúa làm “vạn cổ phúc thần” ban cho dân làng Bình Trật nhiều vàng bạc, châu báu tôn tạo đình làng phụng thờ Trinh Thục công chúa làm Phúc thần.

Thứ Bảy, 27 tháng 2, 2021

BÚT TÍCH CỦA CỤ NGUYỄN VĂN TU VỀ HỌ NGUYỄN TẠI DẤM GHÉM

 Trước đây, các cụ (cụ Nguyễn Văn Rủ, Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Văn Mai...) có dành thời gian đi xác minh về cội nguồn của dòng họ cụ Thượng Tổ Nguyến Văn Quảng.

Cụ Tu có bút tích về vấn đề này như bản chụp dưới đây.


Bản viết tay của cụ Tu ghi rõ như sau:

"Gốc ở Nam Sang, phủ Hà Nam (tức Nam Định). Về vỡ góa, khai hoang được 3 mẫu ruộng, xây dựng 1 chùa tên gọi Chùa Dấm. Khi về Bình Trật, vẫn đưa con cháu lên làm ăn.

Đến đời thứ 4, do đi lại không thuận lợi, nên bàn nhau bán.

Nội dung văn tự:

- Nội tự nhất tòa (không viết)

Nhưng lại viết:

- Điền tự nhất tòa

Do đó Trình Hòang lấy mất ruộng

(Được bữa Dấm Ghém)

Nay ghi lại để con cháu có thông tin thêm.

Ý kiến: Khi tra trên mạng, chỉ thấy có chùa tên là Chùa Giấm ở xã Vũ Lạc, Kiến Xương, Thái Bình. Có thể, khi xưa, cả vùng Kiến Xương, Vũ Tiên... đều thuộc Nam Định, chăng? Nên cụ Tu ghi chùa này thuộc Hà Nam (ghi thêm là tỉnh Nam Định)

Thứ Hai, 9 tháng 11, 2020

BÁC TÔI

 Bác tuổi Nhâm Thìn (1952), đứng đầu chi Nguyễn Văn nhà tôi. Chiến dịch bảo vệ thành cổ Quảng Trị 81 ngày đêm thì bác tham gia đủ 81.




Bác kể, năm 1972, khi quân ta tổ chức tổng tiến công trên 3 chiến trường chính là Quảng Trị, Bắc Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, thì mặt trận Quảng Trị là hướng chủ yếu. Tháng 5/1972 ta chiếm Quảng Trị, thì bắt đầu từ 28/6/1972 Mỹ và Việt Nam Cộng hòa mở chiến dịch tái chiếm.


Bác là lính thông tin ở Sư đoàn 320B. Theo như các số liệu công bố, thì bác cũng phải chịu 4 tấn bom như các chiến sỹ khác.


Tôi vào google.com, các số liệu thật quá sức tưởng tượng:


- Người chết trận phía Cộng sản: khoảng 10.000; phía Cộng hòa và Mỹ: 7.500 người;


- Tổng bom đạn tương đương 7 quả bom nguyên tử Hiroshima.


Nhờ hồng phúc Tổ tiên, qua 2 cuộc kháng chiến, cả họ nhà tôi không có ai đi bộ đội mà hy sinh. Bác cũng thuộc những người cao số, nên bom đạn thế, vẫn nguyên vẹn trở về.


Phục viên, bác tham gia công tác địa phương, phụ trách ban Tuyên huấn xã. Khi bàn chuyện về cán bộ hư hỏng nhiều quá, tham những nhiều quá, bác đằng hắng, chậm rãi :


- Vấn đề này, Đảng và Nhà nước ta kiên quyết lắm. Không thể để như thế được !


Lời lẽ y như của các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước vậy.


Rồi bác trầm ngâm:


- Bao nhiêu xương máu đổ xuống là để dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, cháu ạ. Đấy cháu xem, những anh tham ô, tham nhũng là sẽ bị đưa ra Pháp luật hết, không kể họ là ai, ở cương vị nào. Nghị quyết Đảng ta đã nói vậy rồi !


Là Trưởng Chi, nhưng khi ông em ruột xuất ngũ về cưới vợ, bác nhường khu đất đang ở ra mua ngoài. Các công việc họ, bác đều quán xuyến. Bác bảo, “các cháu ở xa không hiểu đấy thôi, các việc trong gia đình là phải xắn tay vào làm hết”. Những khi lễ lạt, bao giờ bác cũng nghiêm trang trong bộ quân phục, lấp lánh Huân chương, Huy hiệu, như người lính cụ Hồ năm xưa. Với tiền hưu vài triệu ở vùng quê độc canh, cuộc sống cũng không đến nỗi, nhưng bảo giầu lên thì chắc chẳng bao giờ. Duy sự tin tưởng vào đường lối của Đảng ở bác là tuyệt đối.


Ngồi nghe bác kể, nghĩ về quê hương vẫn “một nắng, hai sương”, tôi thấy trong lòng nhiền điều suy ngẫm…

Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2019

SANG CÁT CHO ÔNG NGUYỄN VĂN LUYẾN VÀ BÀ PHẠM THỊ MẬN

Ngày 4/12/2019 nhằm ngày 9/11 năm Kỷ Hợi đã tiến hành cải cát cho ông Nguyễn Văn Luyến và bà Phạm Thị Mận.

Công việc được thực hiện lúc 04:05 ngày 4/12/2019 nhằm ngày 9/11 năm Kỷ Hợi. Ông Nguyễn Văn Luyến sinh năm 1934, mất ngày 01/8/2009 (nhằm ngày 11/6 năm Kỷ Sửu), bà Phạm Thị Mận sinh năm 1932 (CMND ghi năm 1931), mất ngày 10/10/2014 (tức ngày 17/9 năm Giáp Ngọ)

Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2019

Lễ hội Đình Cả năm 2019

Sáng ngày 16/8/2019 (tức ngày 16 tháng 7 năm Kỷ Hợi), xã An Bình tổ chức khai mạc lễ hội Đình Cả năm 2019.

Thứ Ba, 12 tháng 11, 2019

CÔ TÔI

CÔ TÔI
Ly hương biệt xứ cô đi
Cả đời vật lộn cũng vì chồng con
Tuổi già chân mỏi gối chồn
Hũ xương di chúc về chôn quê nhà
Sống thời đất khách người ta
Thác thời về với ông bà tổ tiên
Theo chân các bậc thánh hiền
Cô tôi nay đã về miền cố hương.

Thứ Tư, 4 tháng 7, 2018

Duyên cớ thành lập tỉnh Thái Bình

Theo các nguồn sử liệu thì địa danh Thái Bình với tên gọi phủ Thái Bình (gồm phần lớn đất đai tỉnh Thái Bình ngày nay) có từ năm Ứng Thiên thứ 12 (1005) đời vua Lê Long Đĩnh với sự kiện đổi tên đất Đằng Châu thành phủ Thái Bình. Đương nhiên, trước khi xuất hiện địa danh Thái Bình thì quá trình khai phá đất đai, mở làng, lập ấp ở vùng đất này đã diễn ra từ hàng nghìn năm trước công nguyên và tên gọi, địa dư, diên cách của các phủ, lộ, huyện, làng, xã đã trải nhiều đổi thay theo sự biến thiên của các triều đại.

Thứ Sáu, 27 tháng 11, 2015

60 NĂM ĐẤT VÀ NGƯỜI AN BÌNH

.
Đây là Phim tài liệu quay, dàn dựng công phu về Lịch sử hình thành xã An Bình, đặc điểm văn hóa, con người An Bình. Xin mời bà con cùng xem.


Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2014

CẢM TẠ

.
Gia đình chúng tôi xin chân thành cảm tạ:

- Đảng ủy, chính quyền, Hội người cao tuổi và các ban ngành, đoàn thể xã An Bình, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình,

- Ban Giám đốc Viện chăn nuôi và các Phòng Nghiệp vụ, các Bộ môn nghiên cứu thuộc Viện Chăn nuôi Quốc gia, 
- Ban Giám đốc Phân Viện Chăn nuôi Nam Bộ và các Phòng Nghiệp vụ, Bộ môn nghiên cứu thuộc  Phân Viện Chăn nuôi Nam Bộ,

-  Công ty TNHH Thuốc Thú y Ruby,


- Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương; Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên; Trung tâm Nghiên cứu lợn Thụy Phương; Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện Chăn nuôi; Trung tâm Nghiên cứu và PTCN miền Trung; Trung tâm Nghiên cứu Ong, Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì, và các đơn vị trực thuộc Viện Chăn nuôi Quốc gia,


- Trung tâm Nghiên cứu và PTCN Gia cầm Vigova, Trung tâm Nghiên cứu và PTCN Heo Bình Thắng; Trung tâm Nghiên cứu và PTCN Gia súc lớn; Trung tâm Công nghệ sinh học Chăn nuôi thuộc Phân Viện Chăn nuôi Nam Bộ;

- Hội Đồng Hương xã An Bình tại Tp Hồ Chí Minh,
Hội cựu Sinh viên Việt Nam Tại Mông Cổ,
- Công ty Cao su Phú Riềng, Bình Phước,
- Bệnh viện Đa khoa thuộc Công ty Cao su Phú Riềng,
- Công an tỉnh Bình Phước,
- Công ty CP Vận tải Biển Đông;
- UBND xã Phú Riềng, Bình Phước,
- Các gia đình thông gia Thanh Trì (Hà Nội), Tiền Hải, Đông Hưng, Quốc Tuấn (Kiến Xương), Hải Dương; các gia đình liên thông gia,
- Các anh, chị đồng nghiệp công tác tại Cục Chăn nuôi, Viện Chăn nuôi, Phân Viện Chăn nuôi Nam Bộ, và các đơn vị trực thuộc,
Thân bằng quyến thuộc,
Bà con lối xóm và bạn bè xa gần


Đã đến phúng viếng, gửi vòng hoa, gửi điện, E-mail chia buồn và tiễn đưa mẹ của chúng tôi là



                                                                           Cụ bà: PHẠM  THỊ MẬN
                                                                                    Sinh năm 1931(*)
                Mất lúc 05 giờ 5 phút, ngày 10 tháng 10 năm 2014 (nhằm ngày 17 tháng 9 Giáp Ngọ)
                                                                                 Hưởng thọ 84 tuổi


           về nơi yên nghỉ cuối cùng tại Nghĩa trang Thế Dành, xã An Bình, Kiến Xương, Thái Bình
Trong lúc tang gia bối rối có điều chi sơ suất xin lượng tình thứ lỗi
Tang gia đồng cảm tạ

TM Gia đình
Con trưởng


Nguyễn Ngọc Huân

P/S: Đây là theo CMND, còn thực ra Mẹ tôi tuổi Thân, 1932

Thứ Tư, 27 tháng 8, 2014

LỊCH SỬ NAM TIẾN VÀ NHỮNG CUỘC DI DÂN

.
LỊCH SỬ NAM TIẾN VÀ NHỮNG CUỘC DI DÂN

-          Từ năm 2897 đến năm 2875 trước Công nguyên: nước Văn Lang, họ Hồng Bàng rồi Âu Lạc. Triệu Đà chiếm, khởi đầu Bắc thuộc.
-          Từ năm 76 trước Công nguyên đến thế kỷ thứ 10: Ngô Quyền, 12 Sứ quân, đến triều Đinh (968 – 980), thời kỳ độc lập tự chủ, ranh giới phía Nam giáp Châu Hoan, Hà Tĩnh nay.
-          Năm 992 Lê Đại Hành huy động 3 vạn người vào huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tỉnh, đến châu  Địa Lý của Chiêm. Đây là đường bộ đầu tiên khai thông Bắc - Nam.
-          Năm 1069, vua Lý Thánh Tông vào đánh Chiêm Thành, Chế Củ bị bắt, xin nộp ba châu Bố Chánh, Địa Lý và Ma Linh. Châu Bố Chánh là Nam-Bắc sông Gianh, Quảng Bình nay. Châu Địa Lý nằm giữa Quảng Bình, nay là Lệ Thủy. Châu Ma Linh nằm ở miền Bắc Quảng Trị, nay là Minh Linh, Gio Linh. Liền sau đó vua xuống chiếu chiêu mộ dân vào ở. Hưởng ứng, nhân dân  Nghệ An vào thành họ tộc, lập các xóm thôn như Phan xá, Hoàng xá, Ngô xá, Vũ xá…(xin xem thêm sách “Ô Châu cận lục”)
-          Thời thuộc Minh, từ năm 1407, đất Chiêm Động và Cổ Lủy lại vể lại  với Chiêm Thành, do nhà Minh quản lý.
      Từ 1418 đến 1425, Lê Lợi chiếm lại Thuận Hóa. Châu huyện vẫn gọi như trước, nhưng biên cương vẫn không yên ổn.
-          Năm 1471, vua Lê Thánh Tông quyết định thân chinh tiến đánh, vây hảm thành Trà Bàn (Đồ Bàn), bắt sống Trà Toàn và chiếm đất đến Thạch Bi Sơn, đặt ra phủ Hoài Nhơn. Vùng đất mới chiếm nầy đặt tên mới là Thừa Tuyên Quảng Nam, trong đó có ba phủ, phủ Hoài Nhơn có ba huyện là  Bồng Sơn, Phù Ly và Tuy Viễn. Năm 1490, đổi Thừa Tuyên thành xứ.
-          Ngoài việc đất Quảng Bình (Châu Bố Chính) di dân theo kiểu họ tộc, trong huyện Khang Lộc có 72 làng Mai Xá, Chu  Xá, Lỗ Xá, Phan Xá, Bùi Xá, Trương Xá; ở Châu Minh Linh có 65 làng. Số quan quân đi đánh Chiêm cũng được phép ở lại. Lại khuyến khích dân Nghệ An thạo nghề sông biển, dùng thuyền vào khai thác Hòai Nhơn. Đặc biệt lại đưa phần tử tù nhân bị lưu đày, chia làm 3 bậc đi 3 nơi: lưu cận châu đi Nghê An, Hà tỉnh; lưu ngoại châu, đi Châu Bố Chánh; lưu viễn châu đi Quảng Bình
-          Từ  năm 1474, có đất Thăng Hoa, việc lưu đày được sửa đổi: lưu cận châu, đi Thăng Hoa; lưu ngoại châu đi Tư Nghĩa; lưu viễn châu, đi Hoài Nhơn.
-          Cuộc di dân thời Lê là quan trọng, người Chăm không chỗ lùi phải sống chung với người Việt, cuộc sống của dân mới yên ổn làm ăn.
-          Từ năm 1558 - 1613, Nguyễn Hoàng  theo sấm Trạng Trình: “Hoành sơn nhất đái vạn đâi dung thân” đã vào Thuận Hóa.
-          Khi Đoan quận công vào xây thành Ái Tử,  đoàn tùy tùng theo ông khá đông, gồm những nhà quyền quý ở Tống Sơn, nghĩa dõng ở Thanh Hóa, Nghệ An và khá đông kiến họ ngoại của Chúa cũng theo vào.
-          Nguyễn Hoàng đánh nhau với tướng nhà Mạc là Lập Bạo. Lập Bạo bị giết, quân sĩ đầu hàng, Chúa cho ở lại đất Cồn Tiên lập lên 36 phường.
-          Năm 1611, quân Chiêm Thành ra đánh biên giới Hoài Nhơn, Chúa đem binh đánh trả, chiếm luôn đất Phú Yên, lập hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa.
-          Năm 1648 - 1687 Nguyễn Phúc Tần, chiến tranh Trịnh - Nguyễn nổ ra, trong 46 năm 7 lần đánh nhau, lần thứ 5, quân Nguyễn đánh ra chiếm 7 huyện của Nghệ An suốt 5 năm, khi rút về dắt theo 3 vạn quân dân đàng ngoài, đưa vào an trí khai hoang vùng Quảng Nam cho đến Phú Yên. Lần nầy có họ Hồ ở Hưng Nguyên (Nghệ An) đưa vào An Khê. Đây là Tổ tiên của ba anh em nhà Tây Sơn.
-          Năm 1672, Trịnh Nguyễn đánh nhau lần cuối, không phân thắng bại, hai bên lấy sông Gianh làm giới tuyến, từ đó Nam Hà tách khỏi ảnh hưởng nhà Lê, hình thành một trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế mới là Tri Thiên – Huế.
-          Từ năm 1691 – 1725, chúa Nguyễn Phúc Chu 3 lần mở rộng lảnh thổ về phía Nam:
      1. Năm 1693 lấy nốt đất Phan Rang, Phan Thiết của Chiêm Thành.
      2.  Năm 1698, họp thức hóa hai vùng Đồng Nai và Bến Nghé của Thủy Chân Lạp, lâp ra Gia Định, với hai huyện Phước Long và Tân Bình và di dân miền Ngũ Quảng vào khai thác. Đó là vùng đất miền Đông Nam bô ngày nay. 
      3.  Năm 1714, tiếp nhận vùng đất Hà Tiên do Mạc Cửu dâng cho chúa Nguyễn, gồm An Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau.
-          Sau đó, Nghi biểu hầu Nguyễn Cư Trinh can thiệp vào cuộc động binh giữa Xiêm La, Cao Miên và họ Mạc Cửu ở Hà Tiên, để tiếp quản nốt vùng  Tầm Đôn- Lôi Lạp - Tầm Phong Long vào bản đồ Việt Nam.
-          Trong những lần vào Nam, Tây sơn bỏ ngũ lại, Nguyễn Ánh lên ngôi đã hợp thức hóa cho số người nầy, tiếp đó là tiếp nhận số “phản Thanh phục Minh”
-          Năm 1954,  Nam bộ có thêm dân miền Bắc di cư.
-          Sau năm 1975 số cán bộ, chiến sĩ; số người thiên cư từ miền Bắc vào khá đông.

Sư tầm từ nhiều nguồn

Thứ Tư, 20 tháng 8, 2014

Sang Cát cho Cụ Bà Phạm Thị Khoan

Ngày 22/12/2013, Gia đình tổ chức Lễ Sang Cát cho Cụ Bà Phạm Thị Khoan.
Cụ bà Phạm Thị Khoan (1913-2003)

Thứ Tư, 29 tháng 2, 2012

Mừng thọ 80 bà Vũ Thị Tám (Nhũ danh là bà Lạc)

.
Ngày 19/2/2012 tại tư gia anh Nguyễn Mạnh Hồng, Tam Hòa, Biên Hòa, Đồng Nai diễn ra Lễ mừng Thọ 80 bà Vũ Thị Tám (Nhũ danh là bà Lạc)


Thứ Bảy, 11 tháng 6, 2011

Mừng thọ bà Luyến (Bà Phạm Thị Mận) tuổi 80

Ngày Mùng 4 Tết Tân Mão, 2011, xã An Bình tổ chức mừng thọ cho các cụ trong đó có bà Phạm Thị Mận (nhũ danh là bà Luyến). 

Dưới đây là một số hình ảnh Lễ mừng thọ bà Luyến 80 tuổi.

Các cụ cùng 80 tuổi

Thứ Ba, 29 tháng 3, 2011

Cây gia phả dòng họ cụ Thượng tổ Nguyễn Văn Quảng

.
Đề nghị các con cháu tìm hiểu, bổ sung các thông tin:
(i) Trước cụ Tổ Nguyễn Văn Quảng là ai?
(ii) Cụ Tổ Nguyễn Văn Quảng là người gốc ở đâu, Cụ từ đâu đến? Đến khi nào?
(iii) Tên đất Bình Trật có từ khi nào?
v.v...


Thứ Hai, 28 tháng 3, 2011

GIA PHẢ HỌ NGUYỄN

.
Kính thưa các cụ và nội ngoại tộc cụ Thượng Tổ Nguyễn Văn Quảng, dưới đây là các ghi chép từ nhiều nguồn khác nhau. 

Những người cung cấp thông tin chủ yếu, gồm:

- Ông Nguyễn Văn Diễn, đã cung cấp toàn bộ khung sườn của Gia phả cùng phần lớn các số liệu, sự kiện được các cụ truyền dẫn lại. Bản thân ông Diễn cũng tham gia đi thực tế kiểm chứng các nguồn thông tin khi ông Rủ, ông Tu, ông Mai còn sống.
- Ông Nguyễn Mạnh Lạc, kể lại các sự kiện cho chúng tôi để ghi lại;
- Ông Nguyễn Đình Thư, qua trao đổi với chúng tôi ngày 26/8/2014;
- Ông Nguyễn Ngọc Huân, tham gia viết thêm các sự kiện từ những năm 1960 trờ lại đây;
- Ông Nguyễn Mạnh Hồng: kể lại các sự kiện nghe được từ các tiền bối.

Vì vậy, có chỗ nào chưa chuẩn với sự kiện của Gia phả, xin nội, ngoại tộc cụ Thượng tổ bổ sung.



CÁC NGÀY GIỖ CHẠP: 


Thư ngỏ gửi con cháu cụ Thượng tổ Nguyễn Văn Quảng

.
Gia phả được coi là tài sản của một dòng họ. Gia phả là bản ghi chép tên họ, tuổi tác, vai trò và công đức của cha mẹ, ông bà, tiên tổ ... trong thời đại mà họ đã sinh ra và lớn lên của một gia đình hay một dòng họ.

Gia phả có thể được coi như một bản sử ký của một gia đình hay một dòng họ. Gia phả có khi gọi là Phổ ký, có khi là Phổ truyền. Các nhà Tông thất (dòng dõi vua quan), có khi gọi gia phả của vương triều mình hay gia tộc mình bằng từ ngữ trân trọng hơn: Ngọc phả, Thế phả...